Công Ty TNHH TV XD và TM Bình Hoa

VP TP. HCM - HCMC Office :
327/9B/16 Nơ Trang Long, P.13, Q.Bình Thạnh Tp.HCM HP0903967439 email : hdangbinh@gmail.com
Facebook:
http://www.facebook.com/binhhoasaigon
http://www.facebook.com/binhhoacompany
Hiển thị các bài đăng có nhãn ngành kiến trúc thế giới. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn ngành kiến trúc thế giới. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 11 tháng 6, 2013

kiến trúc bằng gỗ lớn nhất thế giới


kiến trúc bằng gỗ lớn nhất thế giới
Trải rộng trên khu vực có diện tích 18.000 m2, Metropol Parasol được xem là kiệt tác kiến trúc bằng gỗ lớn nhất thế giới.
Chiêm ngưỡng kiệt tác kiến trúc bằng gỗ lớn nhất thế giới
Metropol Parasol là quần thể kiến trúc bằng gỗ nằm ở Quảng trường La Encarnación – quảng trường cổ ở Seville, Tây Ban Nha. Được thiết kế bởi kiến trúc sư người Đức Jürgen Mayer Hermann, công trình này nằm trong dự án khôi phục Quảng trường Plaza de la Encarnacion vào năm 2004.
Mọc lên giữa những tòa nhà từ thời trung cổ, Metropol Parasol là biểu tượng mới của Seville, một trong những thành phố xinh đẹp và cổ kính nhất Tây Ban Nha.
Không gian rộng lớn cộng với thiết kế độc đáo đã biến nơi đây trở thành một trung tâm đô thị lý tưởng cho mọi hoạt động văn hóa, bao gồm cả quán bar và nhà hàng.
Quần thể kiến trúc này bao gồm 4 tầng với diện tích toàn bộ mặt sàn là 12.670 m2 và chiều cao lên đến 28,5 m cùng một tòa nhà trung tâm diện tích 5.000 m2.
Metropol Parasol được hoàn thành năm 2011, sau 7 năm thiết kế và thi công, tiêu tốn khoảng 90 triệu Euro (tương đương 115 triệu USD).
Tầng thượng của Metropol Parasol là một không gian mở, thoáng mát, thường được sử dụng là nơi để tổ chức các sự kiện công cộng.
Đây cũng là địa điểm lý tưởng cho bạn ngắm nhìn toàn cảnh thành phố từ trên cao.
source
Tre Dep Online

Chủ Nhật, 23 tháng 9, 2012

Charlotte Perriand – nữ thiết kế phi thường




Ngày 22.09.2012, 08:52 (GMT+7)
Charlotte Perriand – nữ thiết kế phi thường
SGTT.VN - Một nhà thiết kế nội thất có sức ảnh hưởng lớn nhất đến thời kỳ mở đầu của trào lưu hiện đại, người có công giới thiệu vẻ đẹp của “kỷ nguyên máy móc” đến với nghệ thuật nội thất thông qua những sản phẩm nội thất làm từ thép, nhôm và thuỷ tinh, cộng tác đắc lực của huyền thoại Le Corbusier vào cuối những năm 1920 và 1930, không ai khác hơn đó chính là Charlotte Perriand.
Charlotte Perriand Sinh ra vào năm 1903, tuổi thơ của Perriand lưu giữ Paris hào nhoáng, nơi bà sống với cha mẹ là những người thợ may và đan xen là ký ức về vùng quê bạt ngàn núi non nơi Perriand thường về thăm ông bà ở Savoie. Vào năm 1920, bà theo học tại trường Ecole de l’Union Centrale des Arts Décoratifs trong 5 năm. Thất vọng với những bài học dựa trên nền tảng thủ công và phong cách Beaux-Arts được học tại trường, Perriand bắt đầu tìm cảm hứng trên nét đẹp máy móc của xe máy, xe hơi và những chiếc xe đạp mà bà thường thấy trên đường phố Paris.
Sau khi tốt nghiệp một năm, Perriand kết hôn và chuyển vào căn gác xép thuê của người chồng trên đường Place Saint-Sulpice ở Paris. Sau khi tiếp nhận căn hộ, bà đã biến căn phòng lớn nhất trở thành một quán bar được cấu trúc bởi kim loại và thuỷ tinh. Dũng cảm từ chối công việc tại những nhà máy sản xuất đồ nội thất thủ công tại Faubourg Saint-Antoine, bà tuyệt vọng tìm kiếm những công việc khác để chờ thời cơ bước chân vào ngành thiết kế đồ gỗ nội thất, Perriand còn định theo học ngành nông nghiệp trong thời điểm khó khăn cho đến khi một người bạn gợi ý với bà hai quyển sách được viết bởi Le Corbusier, đó là Hướng về một nền kiến trúc xuất bản năm 1923 và Nghệ thuật trang trí ngày nay xuất bản năm 1925. Perriand đã phấn khởi đến mức tìm cách có được một cuộc gặp với Le Corbusier nhằm cố gắng thuyết phục ông nhận mình vào làm việc.
Hình ảnh Charlott Perriand thoải mái và khiêu khích trên chiếc ghế B306 Chaise Loungue đã nói lên tinh thần của tác phẩm: tiện nghi, thư giãn tối đa. Chiếc ghế đã có 84 tuổi đời nhưng thiết kế của nó vẫn trẻ trung và phù hợp đáng ngạc nhiên với phong cách kiến trúc hiện đại. Được tôn vinh bằng nhiều danh hiệu khác nhau như “cỗ máy êm ái”, “đi-văng của thế kỷ 18”,… B306 Chaise Lounge xứng đáng là biểu tượng bất tử của ngành thiết kế nội thất.
Sống trong một gia đình có cha và mẹ đều là thợ may, Charlotte Perriand quyết tâm theo đuổi sự nghiệp thiết kế và kiến trúc khi hầu hết phụ nữ vào thời đó đều tuân theo một cuộc sống an ổn với các nghĩa vụ bên trong ngôi nhà của cha mẹ họ hay gia đình chồng tương lai.
Cộng tác với Le Corbusier và Piere Jeanneret, Perriand đã phát triển dòng ghế dựa làm từ những ống thép, những chiếc ghế ấy vẫn đang được bán cho đến hôm nay và đã được chào đón như một biểu tượng của kỷ nguyên máy móc. Chúng xứng đáng là tác phẩm để đời của bà. Perriand miệt mài trong studio của Le Corbusier qua một thập kỷ và sau đó hợp tác với nghệ sĩ Fernand Leger và nhà thiết kế đồ nội thất Jean Prouvé. Bà tiếp tục là nhân vật ảnh hưởng đến trào lưu thiết kế hiện đại cho đến khi lìa đời vào năm 1999, được vinh danh là một trong số ít phụ nữ đạt thành công rực rỡ trên lĩnh vực mà nam giới đang thống trị.
Ở độ tuổi 24, Charlotte Perriand đã dám sải bước vào studio của Le Corbusier tại số 35 Rue de Sèvres ở Paris vào năm 1927, để hỏi xin một công việc nhưng chỉ nhận được một câu trả lời ngắn ngủi: “Chúng tôi không cần thợ thêu gối”. Vài tháng sau, chính Le Corbusier phải hối hận vì hành động của mình. Sau khi được người em họ Pierre Jeanneret đưa đi tham quan bar Salon D’Automne do bà thiết kế với thép, thuỷ tinh và nhôm, Le Corbusier đã đích thân mời bà về làm việc tại studio của mình. Perriand đã đưa các nguyên lý của Le Corbusier vào thực tiễn bằng cách phát triển ba chiếc ghế với khung làm từ những ống thép mạ crom cho hai công trình của ông vào năm 1928, đó là Maison La Roche, một ngôi nhà được ông thiết kế ở Paris và một khuôn viên giải trí nằm bên ngoài biệt thự ngoại ô cho hai khách hàng người Mỹ là Henry và Barbara Church. Theo như yêu cầu của Le Corbusier, ba chiếc ghế phải phục vụ cho ba mục đích sử dụng khác nhau, một chiếc được thiết kế cho “những cuộc chuyện trò”, đó là B301 với tay vịn dạng dây quai, chiếc kia dành cho “thư giãn” với thiết kế hình vuông, mập mạp, bọc bằng da; chiếc còn lại dành cho giấc ngủ, đó là chiếc ghế dài có phần lưng dựa đầy mời gọi. Lấy cảm hứng từ những chiếc đi-văng kiểu thế kỷ 18 với những đường cong gợi cảm, chiếc ghế dành cho giấc ngủ chính là chiếc B306 Chaise Lounge kinh điển. Perriand đã quảng cáo ghế bằng hình ảnh bản thân bà trong tư thế nằm vắt chéo chân, diện chiếc váy khá ngắn đối với thời đại ấy, trên cổ đeo một sợi dây chuyền làm từ những viên bi bạc đạn trong công nghiệp.
Làm việc với Le Corbusier giúp Perriand thấm nhuần các phương thức rèn luyện khắc nghiệt để trở thành một nhà thiết kế thực thụ. “Nét bút chì dù nhỏ nhất cũng phải có điểm nhấn”, bà luôn ghi nhớ những điều đó. Bà tin rằng để đáp ứng được nhu cầu của thị trường thì các sản phẩm nội thất phải dựa vào hình thức sản xuất hàng loạt mới có thể đạt giá thành phù hợp. Bà đã cố gắng thuyết phục công ty Peugeot của Pháp đồng ý sử dụng ống thép trong ngành sản xuất xe đạp để sản xuất đồ nội thất. Tuy nhiên, Peugeot đã từ chối và sau đó bà thuyết phục thành công hãng Thonet – nhà sản xuất ghế gỗ yêu thích của Le Corbusier. Hãng này đã sản xuất một loạt sản phẩm nội thất theo tiêu chí của bà cho Salon d’Automne vào năm 1929.
Charlotte Perriand và những sản phẩm nội thất bà thiết kế trong thời gian công tác tại Nhật trên brochure của một trong những buổi triển lãm được các thành phố lớn của Nhật tổ chức để tưởng nhớ công lao và thành tựu của bà.
Tại triển lãm những thiết bị và vật dụng cho nhà ở, Salon d’Automne được lắp đặt dưới dạng một căn hộ tiêu biểu tầm nhìn của sự sang trọng mang phong cách hiện đại. Nền nhà thuỷ tinh sáng loáng, khúc xạ ánh sáng từ dưới sàn nhà cho đến tận trần nhà cũng làm bằng thuỷ tinh. Mỗi chiếc ghế trong nhà đều làm từ kim loại bọc da hoặc vải bạt. Mặt bàn làm từ kính trong suốt và Perriand đã sắp đặt các luồng ánh sáng hợp lý, chế tạo vách ngăn di động để tối đa hoá chức năng của căn hộ, đồng thời tách biệt giữa không gian sống và không gian lưu trữ vật dụng. Bà không quên để ý đến từng chi tiết mềm mại tạo sức hấp dẫn khi tiếp xúc như những bộ lông thú trải trên giường và phòng tắm.
Những năm tiếp theo, cuộc hôn nhân của Perriand đổ vỡ nên bà chuyển về sống tại một căn gác nhỏ ở Montarnasse, nơi bà có thể trèo khỏi cửa sổ phòng tắm để tập thể thao trên sân thượng. Trở về thời kỳ độc thân cùng những người bạn và đồng nghiệp tại studio của Le Corbusier, bà đã du lịch đến nhiều quốc gia để trượt tuyết, bơi lội và đi bộ đường dài. Bà cũng đến Moscow và Athens để tham dự hội nghị Congrès Internationaux d’Architecture Moderne (CIAM) dành cho giới nghệ sĩ theo đuổi trường phái hiện đại. Trong suốt những năm 1930, bà đã đưa sản phẩm nội thất và sản phẩm gia dụng trở thành những yếu tố không thể thiếu cho sự thành công của những công trình kiến trúc gắn liền với Le Corbusier bao gồm cư xá đại học của sinh viên quốc tế tại Cité Universitaire và trụ sở chính của Cứu Thế Quân tại Paris cùng những căn hộ nằm trong các toà nhà hàng đầu trên đường Rue Nungesseret Coli.
Sự nghiệp của bà tiếp tục thăng hoa vào giữa thập niên 1930, khi bà bắt đầu thử nghiệm với vật liệu thô như gỗ và mây, lấy cảm hứng từ những sản phẩm nội thất bản địa mà bà thường thấy ở Savoie. Những vật liệu tưởng chừng lạ lẫm và khá thô sơ so với những vật liệu bà từng yêu thích trước đây như thuỷ tinh hay kim loại, nhưng Perriand đã tin rằng chúng có thể giúp bà tìm thấy mục tiêu sáng tác mới, đó là phát triển hàng loạt dòng sản phẩm nội thất đa năng nhưng vẫn phù hợp với túi tiền của đại đa số người tiêu dùng.
Vào năm 1937, Perriand rời studio của Le Corbusier để cộng tác với Fernand Leger tại một gian hàng đặt ở triển lãm Paris năm 1937 và sau đó bà làm việc cho một khu nghỉ dưỡng vào mùa đông tại Savoie. Khi thế chiến thứ hai nổ ra, bà đã quay lại Paris để cùng Pierre Jeanneret và Jean Prouvé thiết kế những toà nhà đúc bằng những khối nhôm kiên cố. Đến năm 1940, một người bạn từ Studio rue de Sèvres đã sắp xếp cho bà một chuyến du lịch đến Nhật Bản với chức danh cố vấn thiết kế công nghiệp cho bộ Công thương. Perriand lên thuyền từ Marseilles để cập bến Nhật Bản, bà đã đưa ra rất nhiều lời khuyên giúp chính phủ Nhật phát triển thiết kế chuẩn mực cho ngành công nghiệp Nhật Bản, để nước Nhật có thể phát triển sản phẩm xuất khẩu cho các nước phương Tây. Khi Nhật Bản tham gia thế chiến với tư cách đồng minh của Đức, bà mong muốn trở về Pháp nhưng thất bại bởi tình trạng bao vây của hải quân và phải lưu lạc đến Việt Nam từ năm 1942 – 1946. Trong những năm tháng tha hương tại Việt Nam, Perriand đã học được nghề mộc và nghề dệt. Bà cũng kết hôn với người chồng thứ hai là Jacques Martin và sinh ra cô con gái Pernette.
Trở về Pháp, Perriand phục hồi lại sự nghiệp của mình. Dự án đầu tiên đánh dấu ngày trở lại là một resort tại khu trượt tuyết, đến năm 1947, bà làm việc với Fernand Leger cho một công trình bệnh viện và sau đó với Le Corbusier tại công trình Nhà ở xã hội Unité d’Habitation, Marseilles. Kinh nghiệm có được ở Nhật Bản và Việt Nam tiếp tục ảnh hưởng đến phương hướng sáng tác của bà, bà đã kết hợp rất nhiều thành phần chức năng trong nội thất Nhật Bản như cửa kéo để phân chia khu vực không gian, lồng ghép sự tinh tế mang phong cách Đông Dương bằng cách sử dụng vật liệu mang đậm hơi thở của tự nhiên như gỗ và tre. Những đề tài độc đáo đó tiếp tục xuất hiện trong rất nhiều dự án tầm cỡ xuyên suốt sự nghiệp về sau của bà như khu nghỉ dưỡng Méribel và toà nhà Liên hiệp quốc ở Geneva, văn phòng xây mới của hãng hàng không Air France tại London, Paris và Tokyo.
Bà hoạt động năng nổ trong suốt khoảng thời gian này cho đến những ngày cuối cùng trong cuộc đời. Danh tiếng của bà lan xa sau công trình bảo tàng Nghệ thuật trang trí mang phong cách retro ở Paris và một buổi triển lãm vào năm 1998 tại bảo tàng Nghệ thuật thiết kế. “Điều quan trọng nhất là bạn cần công nhận lý do khiến trào lưu hiện đại thành linh hồn của mọi nhu cầu, sự chuyển mình của thiết kế hiện đại dựa trên lợi ích đã được phân tích bằng khoa học chứ không phải chỉ là một phong cách đơn thuần”. Charlotte Perriand khẳng định điều đó trong bài phỏng vấn cuối cùng của bà và kết thúc bằng câu nói bất hủ: “Chúng tôi đã làm việc cùng lý tưởng”.
Tác phẩm tiêu biểu:
   B306 Chaise Longue, thiết kế năm 1928 cho Cassina. Được truyền cảm hứng bởi những đường cong thanh thoát của những chiếc đivăng kiểu Pháp vào thế kỷ 18. Chiếc ghế là một tổng thể chặt chẽ của những thanh thép nhưng lại có vẻ ngoài quá đỗi mềm mại khi được bao phủ bằng lông ngựa và da thuộc. Trong hồi ức của Le Corbusier, ông nói về chiếc ghế như sau: “Khi nhìn thấy nó, tôi hình dung ngay một chàng cao bồi đến từ miền Viễn Tây, môi ngậm tẩu thuốc, gác chân lên bệ lò sưởi và thốt lên: Nghỉ ngơi thôi!”.
Ngày nay B306 Chaise Lounge vẫn là sản phẩm mà ai cũng ước ao được sở hữu. Mang tên gọi mới LC4, chiếc ghế hiện phân phối bởi nhãn hàng nội thất danh tiếng Cassina.
B301 reclining chair Nếu B306 là chiếc ghế dành cho “nghỉ ngơi” thì B301 là chiếc ghế dành cho “chuyện trò” và Grand Confort dành cho “thư giãn” nằm trong bộ ba sản phẩm nổi tiếng được Charlotte Perriand thiết kế theo định hướng của Le Corbusier cho khách hàng vào năm 1928.
B301 reclining chair, chiếc ghế có kết cấu khoa học với lưng tựa thoải mái và tay vịn có hình dáng như những sợi dây curoa của xe đạp hoặc xe máy.
Grand Confort Armchair Và trong bộ ba tất nhiên không thể thiếu Grand Confort Armchair – chiếc ghế bệ vệ, vuông vắn và mềm mại đến mức người ta chỉ muốn lao vào trong vòng tay êm ái của nó ngay lập tức.
Ghế Swivel Thập niên 1920 được giới phân tích gọi là “thế kỷ của những chiếc ghế” bởi vì ngoài tác phẩm bất hủ như bộ ba (B306 Chaise Lounge, B301 và Grand Confort), Charlotte Perriand còn cùng Le Corbusier sáng tác chiếc ghế Swivel cũng trong giai đoạn này. Bên cạnh những chiếc ghế lẫy lừng kể trên, Swivel trông có vẻ khá khiêm tốn với thiết kế đơn giản dành cho không gian làm việc hoặc phòng ăn. Tuy nhiên, dưới sự chỉ dẫn của Le Corbusier và sức sáng tạo của Charlotte Perriand, ẩn sau vẻ ngoài tưởng chừng khô khan ấy lại là cả một phát minh trong cách thức phối hợp vật liệu. Kiểu dáng hoàn toàn thực tế của một chiếc ghế văn phòng đã được Charlotte Perriand biến đổi ngấm ngầm, từ chỗ ngồi êm ái được bọc bởi loại da thượng hạng cho đến lưng ghế được thêm thắt phần tựa lưng tiện nghi mà bà cho rằng được thiết kế theo hình dáng “của những chiếc lốp xe máy”.
Lấy ý tưởng từ chiếc B306 rất được ưa chuộng tại châu Âu, nhưng Charlotte Perriand đã phù phép mẫu thiết kế kinh điển này với chất liệu tre quen thuộc trong kiến trúc Nhật để khi ta đặt chiếc “Tokyo Outdoor” trong không gian đậm chất truyền thống của người Nhật, thế giới phải thừa nhận rằng đây là một chiếc ghế hoàn toàn khác với một cuộc đời đã thuộc về người dân của xứ sở mặt trời.
Tokyo Outdoor Sau khi đến Nhật Bản vào năm 1940, bà nhanh chóng nhận ra tiềm năng vô giá của cây tre đối với ngành công nghiệp nội thất. Trên phương diện chế tạo, tre là một loại chất liệu có thể sử dụng cho cả sản phẩm nội thất và ngoại thất. Trên phương diện sáng tạo, những sản phẩm làm từ tre luôn đem lại vẻ đẹp hiện đại, sang trọng và phong thái tự nhiên không hề phai tàn cùng thời gian. Đó là lý do bà đã cải tiến kiểu dáng của B306 để cho ra đời chiếc ghế làm từ tre mang tên “Tokyo Outdoor”. Mặc dù đã có khi bị xem như một phiên bản sao chép của chiếc ghế huyền thoại B306, chiếc ghế dài bằng tre này đã chứng tỏ được sự khác biệt và nội lực mạnh mẽ của riêng mình.
Sau khi đến Nhật Bản vào năm 1940, bà nhanh chóng nhận ra tiềm năng vô giá của cây tre đối với ngành công nghiệp nội thất. Trên phương diện chế tạo, tre là một loại chất liệu có thể sử dụng cho cả sản phẩm nội thất và ngoại thất. Trên phương diện sáng tạo, những sản phẩm làm từ tre luôn đem lại vẻ đẹp hiện đại, sang trọng và phong thái tự nhiên không hề phai tàn cùng thời gian. Đó là lý do bà đã cải tiến kiểu dáng của B306 để cho ra đời chiếc ghế làm từ tre mang tên “Tokyo Outdoor”. Mặc dù đã có khi bị xem như một phiên bản sao chép của chiếc ghế huyền thoại B306, chiếc ghế dài bằng tre này đã chứng tỏ được sự khác biệt và nội lực mạnh mẽ của riêng mình.
Nhật Bản chắc chắn không thể quên những cống hiến lớn lao của Charlotte Perriand đối với ngành thiết kế nội thất ở nước họ. Kết hợp nhuần nhuyễn giữa tố chất nghệ thuật và tư duy logic trong thiết kế công nghiệp, những sản phẩm nội thất dù được bà thiết kế để phục vụ cho chiến lược đổi thay của ngành công nghiệp sản xuất nhưng vẫn phù hợp hài hoà với văn hoá và lối sống hay nếp nhà của người dân.
Kệ sách và Refolo Quay trở lại Pháp sau nhiều năm lưu lạc, bà không mất quá nhiều thời gian để tái khẳng định danh tiếng của chính mình và kệ sách “Mexique Bookcase” mà bà cùng Jean Prouvé đã thiết kế cho khoa Mexico thuộc đại học Cite là một trong những tác phẩm đột phá cho sự trở lại đầy ngoạn mục vào năm 1953. 
Ghế Ombre Chair Thâm tình giao hảo giữa Perriand và nước Nhật vẫn còn tiếp nối và là động lực để bà cho ra đời chiếc ghế Ombre Chair vào năm 1954. Đây là tác phẩm thiết kế cho triển lãm Nghệ thuật tổng hợp tại Takashimaya, Nhật Bản. Phiên bản đầu tiên của chiếc ghế làm từ gỗ tự nhiên của Nhật và đã tạo nên sức hút lan toả khắp thế giới. Đó cũng chính là lý do bà đã sáng tạo thêm một phiên bản nữa cho nước Pháp vào năm 1956.
Dù nhìn ở góc độ nào thì chiếc ghế cũng toả ra sức hút đầy sáng tạo được kết tinh từ tâm huyết của một nghệ sĩ tài hoa.
Perriand chuyển hướng sang thiết kế những sản phẩm mang màu sắc và hơi hướng đồng quê vào những năm 1960.
Swivel có khung ghế tựa như một mô tả trừu tượng của một chiếc bánh xe với khung, căm kết nối trên trục của bốn chân ghế, tất nhiên, đặc biệt hơn cả vẫn là lưng ghế uốn cong hệt như chiếc lốp căng tròn.
Chiếc ghế là mơ ước của Charlotte Perriand về một “kỷ nguyên máy móc” không hề cứng nhắc như người ta đã từng lầm tưởng.
Sáng tạo dựa trên những điều đã quá quen thuộc, mỗi ngăn kệ chứa đựng tinh hoa của một tâm hồn phong phú trong thiết kế. Kệ sách được làm bằng khung gỗ tự nhiên với những điểm nhấn là các ô màu đen, màu trắng, màu đỏ au của gỗ và màu xanh da trời. Những màu sắc này khi kết hợp lại với nhau, tự chúng đã gợi trong tâm trí người xem một sự liên tưởng mật thiết đến nước Mexico mà không cần bất cứ ngôn từ nào diễn tả.
Vào năm 1953, Charlotte Perriand đã thiết kế một sản phẩm nội thất đa năng mang tên Refolo. Dựa trên ứng dụng mô-đun, bộ sofa này có thể thêm hoặc bớt những tấm nệm để được dùng như một chiếc bàn thấp, ghế dài hoặc đi-văng.
Một số thiết kế khác:
Tinh thần làm việc và sức sáng tạo không ngơi nghỉ của Charlotte Perriand luôn khiến các đồng nghiệp nam phải kính nể. Vào năm 1969, bà tiếp tục giới thiệu trước công chúng chiếc bàn mang phong cách đương đại Plana. Thoạt nhìn, chiếc bàn có vẻ ngoài đơn giản với những thành phần cơ bản được tiết giảm gần như tối đa nhưng khi nhìn kỹ, ta sẽ phát hiện những đường cắt sắc sảo ở mặt bàn và chân bàn, tạo cho tác phẩm vô số cảm nhận khác nhau khi được chiêm ngưỡng từ nhiều góc độ.
Bàn Plana và ghế Refolo.
Và cuối cùng, không thể không nhắc đến chiếc bàn Ventaglio – tác phẩm độc đáo được bà thiết kế cho căn nhà gỗ của bà tại Pháp.
Sự kết hợp giữa yếu tố nghệ thuật và ứng dụng công nghiệp không bao giờ vắng bóng trong các sản phẩm của Charlotte Perriand. Bà đã táo bạo thiết kế mặt bàn dựa trên ý tưởng về những mảnh ván sàn chắp vá mà ta thường thấy ở một góc khuất nào đó trong một ngôi nhà.
TỔNG HỢP: THANH THUỶ
   

Những chiếc ghế bar bà thiết kế cho khu trượt tuyết nghỉ dưỡng “Les Arcs” vào năm 1960 cũng là một trong những tác phẩm đáng ca ngợi. Khung ghế làm bằng Chrom sáng bóng với bề mặt bọc da màu rượu Cognac. Khi phong cách Vintage đang làm mưa làm gió ở cả lĩnh vực nội thất và thời trang như hiện nay, những chiếc ghế này đặc biệt được yêu thích trên toàn thế giới.
Tinh thần làm việc và sức sáng tạo không ngơi nghỉ của Charlotte Perriand luôn khiến các đồng nghiệp nam phải kính nể. Vào năm 1969, bà tiếp tục giới thiệu trước công chúng chiếc bàn mang phong cách đương đại Plana. Thoạt nhìn, chiếc bàn có vẻ ngoài đơn giản với những thành phần cơ bản được tiết giảm gần như tối đa nhưng khi nhìn kỹ, ta sẽ phát hiện những đường cắt sắc sảo ở mặt bàn và chân bàn, tạo cho tác phẩm vô số cảm nhận khác nhau khi được chiêm ngưỡng từ nhiều góc độ.
Bàn Plana và ghế Refolo.
Và cuối cùng, không thể không nhắc đến chiếc bàn Ventaglio – tác phẩm độc đáo được bà thiết kế cho căn nhà gỗ của bà tại Pháp. Sự kết hợp giữa yếu tố nghệ thuật và ứng dụng công nghiệp không bao giờ vắng bóng trong các sản phẩm của Charlotte Perriand. Bà đã táo bạo thiết kế mặt bàn dựa trên ý tưởng về những mảnh ván sàn chắp vá mà ta thường thấy ở một góc khuất nào đó trong một ngôi nhà.

SOURCE
http://sgtt.vn/Kien-truc-doi-song/Chi-tiet/168108/Charlotte-Perriand-%E2%80%93-nu-thiet-ke-phi-thuong.html

Thứ Năm, 12 tháng 7, 2012

Thiết kế của LAVA cho trụ sở chính của quỹ Khí hậu xanh ở Bonn, CHLB Đức




Ngày 06.07.2012, 15:12 (GMT+7)
Thiết kế của LAVA cho trụ sở chính của quỹ Khí hậu xanh ở Bonn, CHLB Đức
SGTT.VN - Nếu trong hội nghị các bên của Công ước Khí hậu (UNFCCC) diễn ra ở Qatar vào cuối năm nay quyết định CHLB Đức trở thành nơi đóng trụ sở chính của quỹ Khí hậu xanh ở Bonn – thủ đô cũ của Đức có quyền chờ đợi một điểm sáng mới trong kiến trúc.
Dự kiến đây sẽ là một công trình xây mới được thiết kế bởi văn phòng kiến trúc LAVA ở Stuttgart, CHLB Đức. Công trình này sẽ đáp ứng những tiêu chuẩn năng lượng và sinh thái xây dựng mới nhất cũng như những đòi hỏi khắt khe nhất về tính bền vững, sinh thái và hiệu quả năng lượng.
Toà nhà mới của quỹ Khí hậu xanh dự kiến được xây dựng trên mảnh đất rộng 13.000m2 với những điều kiện làm việc lý tưởng dành cho 300 nhân viên. Bên cạnh các văn phòng làm việc, toà nhà còn có các không gian hội nghị, càphê và một bãi đậu xe ngầm.
Với vị trí đẹp tại Bonn, nằm gần với dòng sông Rhein bình dị, xung quanh là trụ sở của các bộ có thể đi bộ tới chính là nguồn cảm hứng được truyền vào trong thiết kế này.
 
THEO: DETAIL.DE
source

Thứ Hai, 26 tháng 3, 2012

Kiến trúc sư Eero Saarinen


Ngày 26.03.2012, 08:38 (GMT+7)

Kiến trúc sư Eero Saarinen

SGTT.VN - “Tôi luôn thiết kế một thứ bằng cách xem xét tương quan của nó với một khung cảnh lớn hơn – một chiếc ghế trong một căn phòng, một căn phòng trong một ngôi nhà, một ngôi nhà trong một môi trường, một môi trường trong tổng thể của thành phố”, Eero Saarinen.

Eero Saarinen sinh ra tại Kirkkonummi, Phần Lan. Là con của kiến trúc sư kỳ cựu người Phần Lan Eliel Saarinen, Eero Saarinen có những tố chất được thừa hưởng từ người cha để trở thành một trong những nhà thiết kế nổi tiếng của thế kỷ 20. Ông theo gia đình định cư tại Mỹ vào năm 13 tuổi tại Bloomfield Hills, bang Michigan nơi mà cha ông giảng dạy ở học viện Nghệ thuật Cranbrook. Tại nơi đây, ông đã học về điêu khắc và thiết kế đồ nội thất. Eero Saarinen cũng quen với các bạn học là nhà thiết kế nổi tiếng cùng thời như Charles và Ray Eames, ông trở thành bạn thân của nhà thiết kế Florence Knoll. Sau khi hoàn thành khoá học tại học viện, ông tiếp tục học kiến trúc tại đại học Yale quyết định khởi nghiệp là kiến trúc sư cùng với người cha của mình. Công trình thiết kế của ông luôn có yếu tố tạo hình và điêu khắc theo chủ nghĩa biểu hiện và mạch lạc, rõ ràng của chủ nghĩa Công năng châu Âu.

Cuộc đời ngắn ngủi của một trong những nhà thiết kế vĩ đại thế kỷ 20 đã chứng minh ông là một nghệ sĩ tạo hình kỳ diệu. Cái chết sớm ở tuổi 51 đã chấm dứt một sự nghiệp lẫy lừng mà việc tìm kiếm phong cách cá nhân đang nở rộ thời đó. Bằng những công trình và thiết kế để đời của mình, ông đã góp phần không nhỏ vào việc định hình cũng như sự chuyển hướng nền kiến trúc nửa sau thế kỷ 20. Ông là nhà thiết kế, nghệ sĩ, kiến trúc sư tiên phong của chủ nghĩa Tân biểu hiện trong nền kiến trúc hiện đại của Mỹ cũng như của thế giới.

Một số tác phẩm kiến trúc tiêu biểu:

Trung tâm kỹ thuật General Motor, Warren, Michigan, Mỹ 1955. Trung tâm nghiên cứu của hãng General Motors do hai cha con Saarinen cùng hợp tác thiết kế. Đây là một trong những công trình quan trọng trong thập niên 1950 của thế kỷ 20 và cũng là tác phẩm cuối cùng của cha ông Eliel Saarinen. Sau khi ông mất, Eero Saarinen hoàn thành nốt công trình này.

Giảng đường Học viện Massachusetts, Cambridge, Mỹ, 1955. Eero Saarinen bắt đầu tìm hướng sáng tạo riêng cho phong cách của mình bằng tìm kiếm đường cong trong ngôn ngữ kiến trúc. Năm 1955, ông xây dựng giảng đường của học viện Massachusetts ở Cambridge, Mỹ. Công trình có hình thức kiến trúc và kết cấu khác thường, mặt bằng là một tam giác cong, mái là vỏ mỏng bêtông cốt thép.

Nhà thờ nhỏ MIT, học viện công nghệ Massachusetts, Cambridge, Mỹ, 1955. Sử dụng thủ pháp hình khối kỷ hà, hình trụ tròn, tạo cảm giác vững chãi, tĩnh lặng và mang tính biểu cảm cao. Từ bên ngoài nhà thờ được làm gạch đơn giản, xung quanh có một con hào nhỏ. Nhà thờ có đường kính 15m và cao 9,1m, phía trên có một ngọn tháp bằng nhôm. Phía dưới một số mái vòm thấp, ông chọn gạch thô và không hoàn hảo để tạo hiệu ứng kết cấu và chất cảm của vật liệu. Toàn bộ công trình được đặt trong rừng cây bạch dương, một dãy tường dài được xây dựng phía đông. Các bức tường tạo một nền tảng thống nhất cho nhà thờ, giúp giảm được tiếng ồn ở các công trình xây dựng xung quanh. Phía bên trong là một không gian ấm cúng, thân mật, bức tường nội thất giống như bên ngoài là gạch thô tạo hiệu ứng khi đèn chiếu xuống. Phần trung tâm của nhà thờ là bục ánh sáng được lấy từ cửa sổ tròn trên mái nhà thờ, ánh sáng tự nhiên chiếu xuống bên trong tác phẩm điêu khắc kim loại của Harry Bertoria. Được xây dựng cùng thời gian và địa điểm với giảng đường học viện Massachusetts. Hai công trình có nhiều vẻ đối lập tạo nên sự khác biệt và tô điểm, hỗ trợ cho nhau.

Nhà thi đấu khúc côn cầu Đại học Yale, New Haven, Connecticut, Mỹ, 1958. Nối tiếp thành công trong những trải nghiệm về đường cong trong ngôn ngữ thiết kế của mình. Nhà thi đấu khúc côn cầu trên băng là một trong những điểm sáng trong sự nghiệp của ông, sự tìm kiếm cách thể hiện công trình theo hướng nghệ thuật tạo hình, công trình gợi hình ảnh một sinh vật khổng lồ với sống lưng uốn cong, cái đầu nhỏ bé ngóc lên, giống như con chim với đôi cánh dang rộng như muốn bay lên. Những hình ảnh ẩn dụ làm cho công trình mang nhiều ý nghĩa của trường phái nghệ thuật Biểu hiện trong kiến trúc hiện đại. Công trình nổi lên mặt đất với phần tường và hành lang bao quanh sân đấu. Tất cả khán đài đều nằm chìm dưới mặt đất. Phần mái gồm một dầm thép chính với hai sườn bêtông chạy song song với mặt đất. Hệ thống dây cáp treo gồm dây căng từ dầm xương sống sườn đai và dây nằm ngang thẳng góc với dây trên, ép lại để giữ ổn định tạo thành một mặt cong. Trên hai hệ dây căng này được lợp các tấm kim loại làm mái công trình.

Nhà ga hàng không TWA sân bay Kenedy, New York, Mỹ 1961. Công trình đánh dấu đỉnh cao sự nghiệp của Eero Saarinen với tài năng của mình là ga hàng không TWA tại sân bay Kennedy. Có thể nói đây chính là tuyên ngôn của chủ nghĩa Tân biểu hiện trong nền kiến trúc hiện đại. Thoát khỏi sự gò bó của chủ nghĩa Công năng, với những kiến trúc hình hộp khô khan của một xã hội tiêu thụ thì chủ nghĩa Biểu hiện quay trở lại với cái tên Tân biểu hiện cùng với tên tuổi Eero Saarinen vụt sáng. Với dáng dấp mang ý nghĩa của một con chim khổng lồ dang rộng sải cánh bay lên trời, nhà ga kéo dài 200m bao phủ không gian lớn bao gồm khu tiếp tân, trung tâm thông tin, mua vé, gửi hành lý và các khu kỹ thuật liên quan, toàn bộ được tạo thành các đường cong. Tất cả tạo thành tính nhất quán và cảm giác chuyển động, ông nói rằng: “Tôi muốn tạo cho hành khách sự phấn khích trước một chuyến bay xa”. Đây là nhà ga hàng không xuyên lục địa với những chuyến bay kéo dài, cảm giác hồi hộp, xúc động và lãng mạn được tăng thêm hiệu ứng khi đi trong không gian của công trình này.

Ga hàng không quốc tế Dulles, Washington, Mỹ, 1962. Một công trình nổi tiếng nữa của Eero Saarinen cũng là một ga hàng không quốc tế tại Dulles, Washington. Nhưng với hệ thống kết cấu khác với ga TWA, hệ thống mái treo móc hai đầu vào hai dãy cột xiên, hai đầu cao thấp khác nhau. Mái cong từ dãy cột cao xuống dãy cột thấp hơn tạo thành đường cong nhẹ nhàng. Cạnh đó là đài chỉ huy sân bay như một cây đèn cổ vững chãi.

Nhà hát Opera Sydney, Úc, 1970. Eero Saarinen tuy không phải là tác giả của nhà hát Opera Sydney (Úc), nhưng nhờ có ông mà công trình này được xây dựng. Trong cuộc thi thiết kế quốc tế về nhà hát ở Sydney, bản vẽ của Jorn Utzon, kiến trúc sư Đan Mạch đã bị ban giám khảo loại bỏ. Eero Saarinen lúc đó là uỷ viên ban giám khảo. Do ông đến chậm một ngày, khi tới nơi, ông được biết là một số phương án đã bị loại bỏ. Không nản chí, ông lục lại đống bản vẽ đó và bất chợt ông thấy đồ án của Utzon. Sớm nhận ra tính đột phá trong thiết kế và ngôn ngữ kiến trúc của đồ án hết sức đặc biệt này vào thời điểm đó, ông nói rằng: “Đồ án này chính là giải nhất chứ còn phải đi tìm ở đâu nữa”. Với danh tiếng và uy tín của Saarinen, hội đồng đã xem xét lại đồ án nhà hát của Jorn Utzon và đã được trao giải nhất. Sau đó công trình đã được xây dựng ròng rã trong 14 năm vì gặp rất nhiều thách thức về kết cấu, kỹ thuật thi công và trong thời điểm nền kinh tế khó khăn, cũng như dư luận xã hội. Khi hoàn thành vào năm 1970, nhà hát Opera Sydney được đánh giá là một trong những tác phẩm kiến trúc sáng giá nhất thế kỷ 20.

Một số tác phẩm thiết kế nội thất

Biệt thự của gia đình Miller, Columbus, Indiana, Mỹ, 1953. Công trình được làm cho gia đình nhà tư bản công nghiệp và cũng là nhà từ thiện nổi tiếng J. Irwin Miller. Căn biệt thự mang đầy đủ trang thiết bị hiện đại nhất vào thời đó. Cấu tạo bằng thép kính, Eero Saarinen đã tổ chức không gian rất hợp lý. Ý định ban đầu của vợ chồng Miller là tạo ra một nơi giải trí để họ có thể sử dụng tiếp khách hàng kinh doanh từ khắp nơi trên thế giới, cũng như là một môi trường để nuôi dạy con cái của họ. Eero Saarinen hợp tác cùng với nhà thiết kế nội thất Alexander Girard và nhà thiết kế sân vườn Daniel Kiley để thực hiện những ý tưởng mà ông đã có trong đầu cho ngôi nhà này. Biệt thự Miller chịu ảnh hưởng của Ludwig Mies Van Der Rohe theo phong cách hiện đại. Mái bằng đá và những bức tường kính, các phòng được tổ chức theo dạng lưới, và căn nhà được hỗ trợ bởi những hộp thép chữ nhật. Năm 2000, nhà Miller trở thành một công trình đầu tiên được công nhận là di sản quốc gia. Sau khi bà vợ mất, nó đã trở thành sở hữu của bảo tàng Nghệ thuật Indiana vào năm 2008.


Ghế tử cung (Womb chair). Eero Saarinen nói rằng: “Khi tôi tiếp cận một vấn đề kiến trúc, tôi cố gắng tìm ra ý nghĩa thực sự của nó. Bản chất của nó là gì và làm thế nào nắm bắt các cấu trúc tổng thể của nó?” Người bạn thân của ông là Florence Knoll đã đưa ra những thách thức bằng việc tạo ra một chiếc ghế mà cô có thể nằm cuộn tròn trong đó. Ông đã trả lời bằng việc thiết kế bộ ghế này vào năm 1946 cho nhà sản xuất Knoll, bằng việc bỏ qua những khuôn mẫu cũng như luật lệ cũ và tạo dựng chuẩn mực mới cho thiết kế hiện đại. Bộ ghế này có nhiều kích cỡ lớn nhỏ khác nhau nhưng cỡ vừa và nhỏ được sử dụng làm chuẩn. Với cấu tạo cốt thép và khung được đánh bóng mạ crôm, bọc bằng vải và một lớp vỏ sợi thuỷ tinh, chiếc ghế được thiết kế ngồi thoải mái, và ta có thể ngồi lọt trong chiếc ghế mang lại cảm giác an toàn như một đứa trẻ nằm trong bụng mẹ. Đó cũng là lý do tại sao nó được đặt tên khá đặc biệt là ghế tử cung, chiếc ghế này là một mẫu đặc trưng của nhà sản xuất Knoll, những chiếc ghế được sản xuất vào thời điểm hiện tại có kích thước bằng 85% phiên bản gốc, ngoài ra cũng có phiên bản phù hợp cho kích thước của trẻ em.

Eero Saarinen nói rằng: “Khi tôi tiếp cận một vấn đề kiến trúc, tôi cố gắng tìm ra ý nghĩa thực sự của nó. Bản chất của nó là gì và làm thế nào nắm bắt các cấu trúc tổng thể của nó?” Người bạn thân của ông là Florence Knoll đã đưa ra những thách thức bằng việc tạo ra một chiếc ghế mà cô có thể nằm cuộn tròn trong đó. Ông đã trả lời bằng việc thiết kế bộ ghế này vào năm 1946 cho nhà sản xuất Knoll, bằng việc bỏ qua những khuôn mẫu cũng như luật lệ cũ và tạo dựng chuẩn mực mới cho thiết kế hiện đại. Bộ ghế này có nhiều kích cỡ lớn nhỏ khác nhau nhưng cỡ vừa và nhỏ được sử dụng làm chuẩn. Với cấu tạo cốt thép và khung được đánh bóng mạ crôm, bọc bằng vải và một lớp vỏ sợi thuỷ tinh, chiếc ghế được thiết kế ngồi thoải mái, và ta có thể ngồi lọt trong chiếc ghế mang lại cảm giác an toàn như một đứa trẻ nằm trong bụng mẹ. Đó cũng là lý do tại sao nó được đặt tên khá đặc biệt là ghế tử cung, chiếc ghế này là một mẫu đặc trưng của nhà sản xuất Knoll, những chiếc ghế được sản xuất vào thời điểm hiện tại có kích thước bằng 85% phiên bản gốc, ngoài ra cũng có phiên bản phù hợp cho kích thước của trẻ em.

Ghế châu chấu (Grasshopper chair). Chiếc ghế mang dáng vẻ vừa cổ điển lại vừa hiện đại với chân ghế được uốn cong khéo léo tạo cảm giác nhẹ nhàng nhưng lại rất vững chãi. Nó được ông thiết kế vào năm 1946 cho nhà sản xuất Knoll. Chiếc ghế châu chấu đầu tiên được ông tạo ra trong những năm 1940 và 1950. Knoll đã sản xuất phiên bản ghế thư giãn và ghế gác chân trong gần hai chục năm và mẫu ghế này dừng sản xuất vào năm 1965. Hiện tại nhà sản xuất Modernica tiếp tục sản xuất vào năm 1995, họ đã cải thiện độ bền của phần kế cấu so với phiên bản gốc và nó trở thành một mẫu thiết kế nổi bật trong gia đình và văn phòng. Mẫu ghế này được cung cấp hơn 60 lựa chọn vải, da và phần gỗ uốn hoàn thiện. Phiên bản gốc vẫn được những nhà sưu tầm tìm kiếm.

Chiếc ghế mang dáng vẻ vừa cổ điển lại vừa hiện đại với chân ghế được uốn cong khéo léo tạo cảm giác nhẹ nhàng nhưng lại rất vững chãi. Nó được ông thiết kế vào năm 1946 cho nhà sản xuất Knoll. Chiếc ghế châu chấu đầu tiên được ông tạo ra trong những năm 1940 và 1950. Knoll đã sản xuất phiên bản ghế thư giãn và ghế gác chân trong gần hai chục năm và mẫu ghế này dừng sản xuất vào năm 1965. Hiện tại nhà sản xuất Modernica tiếp tục sản xuất vào năm 1995, họ đã cải thiện độ bền của phần kế cấu so với phiên bản gốc và nó trở thành một mẫu thiết kế nổi bật trong gia đình và văn phòng. Mẫu ghế này được cung cấp hơn 60 lựa chọn vải, da và phần gỗ uốn hoàn thiện. Phiên bản gốc vẫn được những nhà sưu tầm tìm kiếm.

Ghế hoa Tulip (Tulip chair). Được Eero Saarinen thiết kế vào khoảng năm 1955 và 1956 cho nhà sản xuất Knoll tại thành phố New York. Nó được thiết kế thành một bộ ghế và bàn ăn, với những đường cong mềm mại theo chủ nghĩa hiện đại và mang tính trải nghiệm với sự kết hợp vật liệu sợi thuỷ tinh, nhôm, vải và da thuộc. Chiếc ghế này được đánh giá là một thiết kế kinh điển của ngành công nghiệp thiết kế và nó được xem là “kỷ nguyên không gian”, một tiếng nói từ tương lai do sự xuất hiện rộng rãi của nó trong những tập phim truyền hình Star Trek nổi tiếng những năm (1966 – 1969). Với hình dáng hữu cơ mềm mại, rất ít những điểm nối, trông nó như một bông hoa tulip kiêu hãnh khoe vẻ đẹp của mình và làm nổi bật mọi không gian đặt bộ ghế này. Có bốn phiên bản ghế tulip, ghế có lưng tựa và ghế có chỗ để tay, ngoài ra còn phiên bản bọc da hoặc bọc vải phần lưng tựa. Thiết kế ngày giúp cho Eero Saarinen giành được giải thưởng nghệ thuật đương đại năm 1969, giải thưởng thiết kế công nghiệp liên bang năm 1969 và giải thưởng tại trung tâm thiết kế Stuttgart năm 1962. Đây có lẽ là mẫu thiết kế nổi tiếng và phổ biến nhất được biết đến của ông.

Được Eero Saarinen thiết kế vào khoảng năm 1955 và 1956 cho nhà sản xuất Knoll tại thành phố New York. Nó được thiết kế thành một bộ ghế và bàn ăn, với những đường cong mềm mại theo chủ nghĩa hiện đại và mang tính trải nghiệm với sự kết hợp vật liệu sợi thuỷ tinh, nhôm, vải và da thuộc. Chiếc ghế này được đánh giá là một thiết kế kinh điển của ngành công nghiệp thiết kế và nó được xem là “kỷ nguyên không gian”, một tiếng nói từ tương lai do sự xuất hiện rộng rãi của nó trong những tập phim truyền hình Star Trek nổi tiếng những năm (1966 – 1969). Với hình dáng hữu cơ mềm mại, rất ít những điểm nối, trông nó như một bông hoa tulip kiêu hãnh khoe vẻ đẹp của mình và làm nổi bật mọi không gian đặt bộ ghế này. Có bốn phiên bản ghế tulip, ghế có lưng tựa và ghế có chỗ để tay, ngoài ra còn phiên bản bọc da hoặc bọc vải phần lưng tựa. Thiết kế ngày giúp cho Eero Saarinen giành được giải thưởng nghệ thuật đương đại năm 1969, giải thưởng thiết kế công nghiệp liên bang năm 1969 và giải thưởng tại trung tâm thiết kế Stuttgart năm 1962. Đây có lẽ là mẫu thiết kế nổi tiếng và phổ biến nhất được biết đến của ông.

Ghế tựa đơn giản (Side chair) 72PSB. Trong bộ sưu tập mang tính đột phá của mình vào năm 1957, Eero Saarinen chuyển hướng phong cách thiết kế của mình bằng việc sáng tạo hình dáng mềm mại như chất lỏng mang tính điêu khắc. Nhận thức được tầm quan trọng của sự thoải mái cho người sử dụng, Saarinen đã trở thành người đầu tiên sử dụng sợi thuỷ tinh để tạo hình dáng cho những chiếc ghế của mình, một vật liệu mềm dẻo để có thể điều chỉnh với trọng lượng cơ thể để cho ta cảm giác thoải mái nhất khi ngồi. Mẫu ghế đơn giản này có phiên bản có tay và không có tay, phần lưng ghế có thể được bọc vải mềm, chân kim loại hoặc gỗ uốn nhiệt hoặc chân có bánh xe và xoay được. Mẫu ghế này lý tưởng cho quán càphê, thư viện, văn phòng tuỳ theo các lựa chọn của từng phiên bản.

Trong bộ sưu tập mang tính đột phá của mình vào năm 1957, Eero Saarinen chuyển hướng phong cách thiết kế của mình bằng việc sáng tạo hình dáng mềm mại như chất lỏng mang tính điêu khắc. Nhận thức được tầm quan trọng của sự thoải mái cho người sử dụng, Saarinen đã trở thành người đầu tiên sử dụng sợi thuỷ tinh để tạo hình dáng cho những chiếc ghế của mình, một vật liệu mềm dẻo để có thể điều chỉnh với trọng lượng cơ thể để cho ta cảm giác thoải mái nhất khi ngồi. Mẫu ghế đơn giản này có phiên bản có tay và không có tay, phần lưng ghế có thể được bọc vải mềm, chân kim loại hoặc gỗ uốn nhiệt hoặc chân có bánh xe và xoay được. Mẫu ghế này lý tưởng cho quán càphê, thư viện, văn phòng tuỳ theo các lựa chọn của từng phiên bản.

Một số mẫu thiết kế khác:

Bàn nằm trung bộ ghế Tuplip. Phiên bản ghế Tuplip không có lưng tựa.

Ghế tử cung (Womb chair) phiên bản dạng ghế sofa.

Ghế ABS được làm bằng sợi thuỷ tinh tạo hình.

Bộ Tulip chair là một trong những bộ bàn ghế nổi tiếng nhất vào thời đó, mang tính đột phá trong việc thiết kế và sản xuất. Poster mang đậm phong cách furturistic (vị lai).

tổng hợp KILA

source

http://sgtt.vn/Kien-truc-doi-song/Chi-tiet/162130/Kien-truc-su-Eero-Saarinen.html